English |
Français |
Dentsch
|
Pусскийc
Các Điểm
Tham Quan - Du Lịch
Hồ Tây
Hồ
Tây, mặt gương của Hà Nội, có diện tích rộng hơn 500 ha với
một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường vòng quanh hồ dài
tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng hồ là một
đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng...
Có thể do sông hồ biến đổi như vậy mà đã xuất hiện nhiều truyền
thuyết về hồ và tên gọi của hồ. Ví như theo truyện "Hồ
Tinh" thì có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo, vì truyện
kể là có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân.
Long Quân mới dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra
hồ. Theo truyện "Khổng lồ đúc chuông" thì hồ lại
có tên là Trâu Vàng. Truyện kể rằng có ông khổng lồ có tài
thu hết đồng đen của phương bắc đem đúc thành chuông. Khi
thỉnh chuông, tiếng vang sang bên bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng
nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi
tìm mẹ. Tới đây nó quần mãi đất, khiến sụt thành hồ. Theo
thư tịch thì thế kỷ XI, hồ này đi vào lịch sử với tên là Dâm
Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ XV thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ
còn có tên là Lãng Bạc, trùng với tên nơi diễn ra những trận
đánh ác liệt giữa quân của Hai Bà Trưng và quân Hán ở vùng
Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Hồ Tây từ lâu lắm đã là thắng cảnh.
Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện
làm nơi nghỉ mát, giải trí, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện
Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc, cung Từ Hoa
thời Lý nay là khu chùa Kim Liên, điện Thuỵ Chương thời Lê
nay là khu trường Chu Văn An... Những ngày sóng yên gió lặng,
chơi thuyền Hồ Tây là một thú tao nhã. Lướt trên sóng hồ nhiều
thi sĩ đã có những vần thơ tuyệt tác như Nguyễn Du, Nguyễn
Công Trứ, Nguyễn Khuyến...
Nếu làm một cuộc đi dạo quanh hồ thì đồng thời cũng được
thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh. Làng Nghi Tàm, quê hương
nhà thơ "Bà huyện Thanh Quan" với chùa Kim Liên
có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân nguồn hoa đào mỗi độ xuân
về. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng, làng Trích
Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh, sang làng
Kẻ Bưởi có nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bách
quan hội thề thời Lý, làng Thụy Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng
một thời... Và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh. Lại còn cả
một số công trình nhà ở mới xây dựng bên hồ làm quang cảnh
thêm đa dạng. Cùng với hồ Trúc Bạch, Hồ Tây làm giàu thêm
chất thơ ở nội thành Hà Nội đồng thời cũng làm giàu cho Hà
Nội về kinh tế, vì đó là những vựa cá đem lại nguồn thu lớn.
Thăng long Tứ trấn
Đền Kim Liên là một trấn ở phía nam thành Thăng Long, cùng
với đền Quán Thánh trấn phía bắc (còn gọi là Trấn Vũ), đền
Bạch Mã ở phía đông, đền Voi Phục phía tây (còn gọi là Thủ
Lệ, Linh Lang) họp thành Thăng Long tứ trấn tạo nên ý nghĩa
và tầm vóc của mảnh đất kinh kỳ.
(Nguồn: Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
.................................***..................................
Đền Kim Liên
Đề n
trước đây thuộc địa phận phường Kim Hoa, sau thuộc phường
Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là phường Phương
Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Đình thờ thần Cao Sơn.
Tương truyền thần đã có công giúp Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ
Tinh và sau này lại giúp vua Lê Tương Dực dẹp loạn, khôi phục
nhà Lê. Do đó vua Lê cho xây đền, dựng bia để hương khói phụng
thờ. Chịu tác động của thăng trầm lịch sử, đến nay đền không
còn nguyên dạng (toàn bộ nhà bái đường đã bị tàn phá), chỉ
còn lại nhà hậu đường ba gian, tam quan, cổng gạch và hai
giải vũ. Tam quan và đền xây trên gò đất cao, từ sân bước
lên phải qua chín bậc gạch, hai bên thềm là hai sấu đá niên
đại thời Lê. Tam quan xây thành nhà hoàn chỉnh, kiểu tường
hồi bít đốc. Bốn góc tường hồi có bốn cột trụ, bốn bộ vì đỡ
mái làm theo kiểu chồng giường, giá chiêng, cột trốn. Các
con giường chạm nổi hình mây cuốn, câu đầu và hai bẩy hai
vì ngoài chạm bong kênh và chạm lộng nhiều lớp hình tứ linh.
Trong đền vẫn còn long ngai thờ thần Cao Sơn và hai nữ thần
phối hưởng: Thuỷ Tinh đệ Tam Tôn nữ và Huệ Minh phu nhân (không
rõ sự tích). Đền còn giữ được 39 đạo sắc phong trong đó 26
đạo thời Lê Trung Hưng, 13 đạo thời Nguyễn, ngoài ra là các
câu đối, bia đá trong hốc cây có bài văn bia của Lê Trung
Hưng. (Nguồn: Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
................................***...................................
Đền Voi Phục
Sở
dĩ gọi là đền Voi Phục vì tại cửa đền có đắp hai con voi quỳ
ngay ở cổng đi vào. Đền còn có tên là đền Thủ Lệ; Linh Lang
do thờ thần Linh Lang đại vương. Đền nằm phía tây kinh thành
Thăng Long cũ, nay thuộc phường Cầu Giấy, quận Ba Đình, Hà
Nội. Đền là một trong "Thăng Long tứ trấn", được
dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ bảy (1065) đời vua Lý
Thánh Tông. Tương truyền Linh Lang là con trai thứ tư của
ông.
Trong đền có hai pho tượng đồng và hòn đá to có vết lõm,
tương truyền là nơi Linh Lang nằm gối đầu lên rồi hoá thành
con giao long và trườn xuống hồ. Đầu năm 1994, nhân dân Thủ
Lệ quyên góp đúc lại quả chuông chiều cao 93cm, đường kính
miệng 70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có hai hàng chữ Hán đúc
nổi: "Tây trấn thượng đẳng".
Đường vào đền có nhiều cây cổ thụ, đền được xây cạnh hồ Thủ
Lệ, có khuôn viên rộng rãi, cây cối xanh um tùm nên được coi
là một cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội. (Nguồn: Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
.................................***..................................
Đền Quán Thánh
Đền
hiện ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, đời Lê
thuộc đất phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía nam Hồ
Tây. Đền được lập từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long
(năm 1010). Vua cho rước bài vị của thần về ở phía tây bắc
thành, gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế quán. Quán là nơi
thờ tự của đạo Giáo, dân chúng quen gọi là đền Trấn Vũ hoặc
đền Quán Thánh.
Sự tích đền cho biết: Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản
phương bắc giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống
yên lành vùng chung quanh thành Thăng Long: trừ rùa thành
tinh (đời Hùng Vương 14), trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ, giúp
An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt hồ
ly tinh trên sông Hồng đời vua Lý Thánh Tông... Đến thời nhà
Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu mưa mỗi khi có hạn
hán. Ngôi đền hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần. Năm Đinh
Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị II (1677), đời Lê Hy Tông, chúa Trịnh
Tạc sai đình thần là Nguyễn Đình Luân trùng tu. Tượng Huyền
Thiên Trấn Vũ được triều đình cho đúc lại bằng đồng đen (hun).
Tượng cao khoảng 3,96 m, chu vi 8 m. Tượng mặt vuông, mắt
nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ,
ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm
có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa. Tượng Huyền Thiên
Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ
thuật đúc đồng và tài nghệ của dân ta cách đây ba thế kỷ.
Tại nhà bái đường còn một pho tượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng
đồng đen, nhiều người cho rằng đây là tượng ông Trùm Trọng,
người thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tượng Trấn Vũ. Tượng
này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ công ơn thầy.
Cùng đúc với tượng là quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam
quan. Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến
sĩ Hồ Sĩ Dương soạn. Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng
nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (1,10m
x 1,25 m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai. Đến thời Nguyễn, vua
Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa. Năm 1923, cho
đổi là Trấn Vũ quán.
Năm 1856, bố chánh Sơn Tây là Phạm Xuân Quế, bố chánh Hà
Nội là Tôn Thất Giáo, tri huyện Vĩnh Thuận là Phan Huy Khiêm
đã tổ chức quyên góp trùng tu, sửa lại chính điện, đình thiêu
hương, bái đường và gác chuông, làm thêm hai dãy hành lang
bên phải và bên trái, đắp lại bốn pho tượng đại nguyên soái,
tượng thần Đương Niên hành khiển, Văn Xương Đế Quân và dời
xuống hậu đường phía sau. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm
và dâng một đồng tiền vàng, cộng với số tiền vàng do các hoàng
thân dâng, đúc lại thành vòng. Vòng dùng sợi dây bạc xâu để
treo ở cổ tay tượng thần. Đằng sau đền lại đắp hòn núi non
bộ trong một bể con và dựng một đền nhỏ gọi là Vũ Đương Sơn.
Sửa chữa xong, có dựng bia do tiến sĩ Lê Hy Vĩnh soạn. Đền
hiện nay có sáu bia, kiến trúc, trang trí của đền hiện nay
mang phong cách thời Nguyễn. (Nguồn: Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
...............................***....................................
Đền Bạch Mã
Đền
thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài
Đức, nay là 76 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đền thờ
thần Long Đỗ tức Bạch Mã, vị thần bảo hộ kinh thành Thăng
Long. Theo một bộ sách soạn ở thế kỷ XIV thì chính thần Bạch
Mã đã cảnh cáo Cao Biền, một viên quan Trung Quốc, sang cai
trị, khoảng thời gian từ năm 866 đến năm 875, khiến y sợ hãi
phải lập đền thờ. Một truyền thuyết khác kể thêm: khi vua
Lý Công Uẩn định đô Thăng Long (1010), xây thành mà cứ bị
sụt lở, ông tới đây cầu lễ và lạ thay, một buổi sáng chợt
thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh
khu vực đang xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy rồi
trở lại đền và vụt biến. Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây,
thành không lở nữa. Vua bèn phong thần Long Đỗ làm thành hoàng
bảo vệ cho Thăng Long. Từ đó thần có thêm tên là Bạch Mã.
Đền đã được sửa chữa nhiều lần, cuối thế kỷ XVII được tôn
nền cũ và mở rộng. Năm 1781, chúa Trịnh cho dân các giáp Mật
Thái, Bắc Thượng, Bắc Hạ thuộc phường Hà Khẩu chung quanh
đền Bạch Mã được "tạo lệ" (sắm lễ vật tế, không
phải sưu sai, tạp dịch khác). Năm 1829, sửa chữa đền thêm
tráng lệ. Năm 1839, dựng văn chỉ ở bên trái đền, dựng Phương
đình để làm nơi cúng lễ các tuần tiết. Trong đền hiện nay
còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị như 15 văn
bia (nội dung các văn bia đề cập sự tích của đền, thần, nghi
lễ cúng thần, các lần trùng tu tôn tạo), đồ thờ gồm các vũ
khí thời cổ như xích, đao, thương, câu liêm... được sơn son
thếp vàng, chạm khắc tinh xảo. Trong đền, cùng với các lư
hương đồng, bình đồng, còn có tượng Phật và một đôi hạc, đôi
phỗng trong tư thế đứng trang nghiêm.
Lễ hội đền hằng năm vào tháng hai âm lịch, trước đây có tổ
chức lễ đánh trâu rước xuân. (Nguồn: Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
.................................***..................................
Văn Miếu - Quốc Tử Giám
V ăn
Miếu - Quốc Tử Giám là trường học cổ của kinh thành Thăng
Long và là trường đại học đầu tiên ở vùng Đông Nam Á. Văn
Miếu không những là một di tích lịch sử - văn hoá cổ kính,
mà còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá, khoa học đậm
đà bản sắc dân tộc của thủ đô Hà Nội.
Văn Miếu được xây dựng tháng 8 năm Canh Tuất, tức tháng 10
năm 1070 (đời vua Lý Thánh Tông) là nơi thờ các thánh hiền
đạo nho (Khổng Tử, Mạnh Tử...). Sáu năm sau (1076), Lý Nhân
Tông lập thêm Quốc Tử Giám ở kề phía sau, ban đầu là nơi học
của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả những học trò giỏi
trong thiên hạ. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch
Bát Tràng. Bên trong có những lớp tường ngăn thành năm khu.
Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính. Trên cổng có chữ Văn
Miếu Môn, dưới cổng có đôi rồng đá mang phong cách thời Lê
Sơ (thế kỷ XV).
Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn mở đầu cho khu thứ
hai. Hai bên còn có hai cổng nhỏ có tên là Thành Đức và Thành
Đạt. Vẫn lối đi ấy dẫn tới Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao
khuê, sao chủ về văn học). Hai bên gác có hai cổng nhỏ có
tên là Súc Văn và Bí Văn (Văn hàm súc và Văn sáng đẹp).
Khu thứ ba từ gác Khuê Văn tới Đại Thành Môn. Ở giữa khu này
có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (Giếng trời trong
sáng) có tường hoa bao quanh. Hai bên là khu nhà bia (nơi
dựng bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ). Hiện nay có 82 bia,
xưa nhất là bia ghi khoa Đại Bảo thứ ba (năm 1442), muộn nhất
là bia Cảnh Hưng thứ 40 (năm 1779). Đó là những di vật quý
nhất của khu di tích này.
Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Một sân rộng, hai
bên là hai dãy nhà tả vu, hữu vu, vốn dùng làm nơi thờ các
danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái, kiến trúc đẹp và hoành
tráng.
Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông Bích Ung
đại chung (chuông lớn của nhà Giám) do Nguyễn Nghiễm đúc năm
1768; bên phải có một tấm khánh đá, mặt trong có hai chữ Thọ
Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ, nói về công
dụng của loại nhạc khí này. Tiếp sau Đại Bái là Hậu Cung nơi
đặt tượng Khổng Tử và bốn môn đệ là Nhan Tử, Tăng Tử, Mạnh
Tử, Tử Tư. Sau khu Đại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám thời
Lê, khi nhà Nguyễn chuyển trường này vào Huế thì ở đây dựng
đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1947, giặc Pháp đã
đốt trụi khu này.
Ngày nay, thành phố Hà Nội đã lập tại đây "Trung tâm
hoạt động văn hoá - khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám"
để phát huy tác dụng của di tích. (Nguồn: Sở Du Lịch Hà Nội)
<Về đầu trang>
|