English |
Français |
Deutsch |
Pусский
Tây
Nguyên
Diện
Tích (km2 ) :
Lâm Đồng : 9.776,1 ; Kon Tum : 9690,5 ; Gia Lai : 15.533,9
; Đắk Lắk : 13.139,2 ; Đăk Nông : 6.516,9
Dân Số ( người ) :
Lâm Đồng : 1.198.800 ; Kon Tum : 389.900 ; Gia Lai :
1.165.800 ; Đắk Lắk : 1.759.100 ; Đăk Nông : 421.600
Đân Tộc : Việt (Kinh), Xơ Đăng, Ba
Na, Giẻ Triêng, Gia Lai, Ê Đê,Nùng, M'Nông,Tày.
-Vùng Tây Nguyên,
một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu
vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí
địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk,
Đắk Nông và Lâm Đồng.
Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với vùng Duyên hải
Nam Trung Bộ hợp thành vùng Nam Trung Bộ, thuộc Trung
Bộ Việt Nam.
Thời Việt Nam Cộng hòa, nơi đây được gọi là Cao nguyên
Trung phần. Hiện nay đôi khi được gọi là Cao nguyên
Trung Bộ. Trước đó, thời Bảo Đại làm Quốc trưởng, vùng
đất này còn được hưởng quy chế riêng là vùng Hoàng triều
Cương thổ. |
Tên gọi
Theo Nguyễn Đình Tư trong bài Tây Nguyên xưa và nay, tạp chí
Xưa và nay, số 61B, tháng 3 năm 1999, thì địa danh Tây Nguyên
được biết đến từ năm 1960, khi công bố Hiến pháp 1959 của
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có điều khoản về các khu
tự trị của các sắc tộc thiểu số và có nhắc đến Tây Nguyên.
Trước đó, từ thời Pháp thuộc, vùng đất này chưa có tên gọi
riêng mà chỉ là đơn vị hành chính trực thuộc Khâm sứ Trung
Kỳ, nên có tên là vùng Cao nguyên Trung Kỳ. Ngoài ra, người
Pháp còn gọi nơi này là Les Hauts Plateaux du Sud (Cao nguyên
miền Nam).
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim đã đổi
tên đơn vị hành chính cấp Kỳ thành cấp Bộ. Từ đó vùng đất
này được gọi là Cao nguyên Trung Bộ.
Khi Quốc gia Việt Nam thành lập, Quốc trưởng Bảo Đại đã đổi
tên đơn vị hành chính cấp Bộ thành cấp Phần. Riêng khu vực
cao nguyên được tách ra và được hưởng quy chế hành chính đặc
biệt có tên là Hoàng triều cương thổ. Tại vùng này thì Quốc
trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai trò là Hoàng đế.
Đến năm 1955, Ngô Đình Diệm truất phế Bảo đại và thành lập
nền Đệ nhất Cộng hòa. Hoàng triều cương thổ lại được sát nhập
vào Trung phần và được gọi là vùng Cao nguyên Trung phần.
Tên gọi này được chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng mãi cho
đến năm 1975.
Địa lý
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc
Campuchia. trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với
cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ
có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không
có đường biên giới quốc tế.
Con đường đất đỏ Tây Nguyên một thời huyền thoạiThực chất,
Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một
loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao
khoảng 500 m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng,
Plâyku cao khoảng 800 m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500
m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao
khoảng 800-1000 m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và
cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000 m. Tất cả các cao nguyên
này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối
núi cao (chính là Trường Sơn Nam).
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng
thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng
với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung
Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam
Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Trung Tây Nguyên
có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía
Bắc và Nam.
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500
m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những
cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm. Cây
điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây. Cà phê
là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên
cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ. Và
đang tiến hành khai thác Bô xít.
Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích
rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong
phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên
có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng hộ
rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên
nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chận được tại
đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi
môi trường sinh thái.
Khí hậu
Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng
5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong
đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất.
Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao
400-500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên
cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh
năm như vùng ôn đới.
Lịch sử
Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn
sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một
quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu
số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn
công của vương quốc Champa hoặc Chân Lạp nhằm cướp bóc nô
lệ.
Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa
Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và
cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực
Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang
chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn
bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và
mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng
bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong
một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về
các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu
và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ
Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ
các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.
Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất
Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời
nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số
Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh
nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra
Bắc xuân Kỷ Dậu (1789).Sang đến triều nhà Nguyễn, quy chế
bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay
đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên
vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 1834). Người
Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt
ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu
số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của
bộ tộc Mạ).
Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ
đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng
đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong
lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này.
Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang
Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh
phục được các bộ lạc thiểu số. Ông ta thành lập Vương quốc
Sedang có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình
lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất. Nhận thấy được vị trí
quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayréna về
châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng
quang” thay Mayréna. Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền
quản lý của Công sứ Quy Nhơn. Sau đó vài năm, thì vương quốc
này cũng bị giải tán.
Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát
hiện ra cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ
thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây. Nhân dịp
này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng
đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn
thuộc quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam. Vì vậy, năm
1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều
Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao
nguyên Trung kỳ. Năm 1898, vương quốc Sedang bị giải tán.
Một tòa đại lý hành chính được lập ở Kontum, trực thuộc Công
sứ Quy Nhơn. Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban
dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính
và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây.
Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt
và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất
cao nguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai
trị của chính quyền thực dân Pháp. Năm 1907, tòa đại lý ở
Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với việc thành lập
các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Những thực dân
người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồ điền đồng thời
cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được.
Năm 1917, tại đó, thị xã Đà Lạt được thành lập.
Dân cư
Nhiều
dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây
Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông...
Chính quyền Việt Nam cộng hòa gọi chung những dân tộc này
là "đồng bào sắc tộc" hoặc "người Thượng";
"Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng"
là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để
chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung.
Nhà của đồng bào người Nùng, di cư từ miền Bắc vàoNăm 1976,
dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong
đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7%
dân số). Năm 1993 dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm
35 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.050.569
người (chiếm 44,2% dân số). Năm 2004 dân số Tây Nguyên là
4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc
thiểu số là 1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) . Riêng tỉnh
Đắc Lắc, từ 350.000 người (1995) tăng lên 1.776.331 người
(1999), trong 4 năm tăng 485% [3]. Kết quả này, một phần do
gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di
dân đến Tây nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân
tự do. Người dân tộc đang trở thành thiểu số trên chính quê
hương của họ. Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói,
kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây,
mỗi năm vẫn có tới gần một nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá
) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên và thường xuyên dẫn
đến xung đột. Hiện nay, ước lượng dân số Tây Nguyên vào khoảng
5,5 đến 6 triệu người.
Các điểm du lịch
|